Có đòi được quyền sử dụng đất đã cấp sổ đỏ cho hộ gia đình khi không có tên trong sổ hộ khẩu

Tôi tên Đông ở huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái, tôi đang có một vấn đề vướng mắc, rất mong luật sư có thể giải đáp giúp tôi.

Sổ đỏ nhà tôi là sổ đỏ hộ gia đình theo tên chủ hộ là tôi. Lúc cấp sổ đỏ năm 2005 thì hộ khẩu gia đình chỉ gồm mẹ tôi, vợ chông tôi và 2 con nhỏ. Anh trai của tôi khi lập gia đình đã tách khẩu ra từ trước khi bố tôi mất năm 2002. Lúc đoàn kiểm tra đến nhà để làm sổ đỏ, tôi có đưa tên mẹ tôi ra để làm sổ đỏ thì họ gạch tên mẹ tôi và lấy tên tôi làm chủ hộ. Như vậy thì anh trai tôi có kiện chia đất của tôi được không ạ? Mong nhận được hồi đáp của luật sự. Cảm ơn luật sư.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội:

Căn cứ vào khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013 và khoản 5 Điều 6 Thông tư 33/2017 của Bộ TN&MT thì tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất mà những người trong hộ gia đình có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung trong hộ gia đình và có quyền sử dụng quyền sử dụng đất chung thì giấy chứng nhận (GCN) được cấp cho hộ gia đình, và những người đó được ghi tên trên giấy chứng nhận.

Thời điểm để xác định hộ gia đình có bao nhiêu thành viên có quyền sử dụng đất chung là thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất và việc xác định những người có quyền sử dụng đất chung đối với thửa đất cấp cho hộ gia đình được căn cứ vào hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng đất.

Theo đó, tất cả những người có tên trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thời điểm thửa đất được cấp giấy chứng nhận, không phân biệt đã thành niên hay chưa thành niên, và vợ hoặc chồng của những người đó (tại thời điểm cấp giấy chứng nhận cho hộ họ đã đăng ký kết hôn hợp pháp) đều có chung quyền sử dụng đất.

Bạn cần xem xét lại hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình mình có tên của anh trai hay không, nếu không có thì anh trai bạn sẽ không có quyền sử dụng đất chung, và do đó không có căn cứ khởi kiện đòi chia QSDĐ đã cấp cho hộ gia đình của bạn.

Tuy nhiên, vì bạn không nói rõ về nguồn gốc sử dụng đất nên anh trai của bạn vẫn có thể có căn cứ để khởi kiện đòi chia quyền sử dụng đất đối với thửa đất đó. Giả sử nếu có những bằng chứng chứng minh về việc thửa đất này thuộc về bố mẹ bạn như: những giấy tờ giao đất, cho thuê đất của Nhà nước, hoặc những giấy tờ khác chứng minh về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 và Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, và năm 2002 bố bạn chết không để lại di chúc thì việc cấp GCN QSDĐ cho hộ gia đình đứng tên bạn có thể trái với quy định của pháp luật, khi không xem xét đến việc thừa kế theo pháp luật của anh trai bạn đối với thửa đất theo quy định tại Điều 650, Điều 650 BLDS 2015, quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo pháp luật. Khi đó, anh trai bạn vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu chia QSDĐ đối với ½ thửa đất thuộc quyền sử dụng đất của bố bạn theo quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015 : “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”

Trường hợp việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình đứng tên bạn là đúng với quy định của pháp luật, nhưng anh trai của bạn có đóng góp tài sản hoặc có góp công sức vào thửa đất này, và cung cấp được bằng chứng chứng minh về việc đóng góp đó, thì anh trai bạn vẫn có quyền yêu cầu bạn thanh toán giá trị phần đóng góp vào khối tài sản chung theo quy định tại Điều 219 BLDS 2015. Cụ thể: “Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác…”

call-to-like

Đội ngũ luật sư bào chữa – Hãng Luật TGS LAWFIRM

 

Luật sư – Nguyễn Văn Tuấn – GĐ Hãng Luật TGS

Ông là một luật sư giỏi có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đất đai. Luật sư đã tham gia tranh tụng nhiều vụ án tranh chấp đất đai, vụ án hình sự, kinh tế, thương mại,.. trên toàn quốc.

 

Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc Hãng Luật TGS

Thạc sĩ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng là một luật sư giỏi, đã từng công tác tại Công ty Luật TNHH NHB và nhiều công ty luật có thương hiệu khác, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Đất đai, hình sự, dân sự.

 

Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Luật sư Hãng Luật TGS

Luật sư Đức Hùng từng công tác tại nhiều tổ chức hành nghề luật sư uy tín, có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tranh tụng hình sự, đất đai, tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình.

 

Luật sư Hà Huy Sơn – Luật sư Hãng Luật TGS

Là một luật sư giỏi trong lĩnh vực hình sự. Với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Hình Sự, luật sư Hà Huy Sơn đã gây dựng được cho mình thương hiệu riêng và sự uy tín vững chắc đối với khách hàng.

tu van
ảnh đại diện luật sư tuấn

Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí

  • Luật Sư - Văn Phòng Luật TGS Law
  • Địa chỉ: Số 5, Ngách 24, Ngõ 1, Trần Quốc Hoàn, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội
  • Điện thoại: 024.6682.8986
  • Email: contact@tgslaw.vn
  • Hotline: 024.6682.8986. - Luật Sư Nguyễn Văn Tuấn

Hoặc Bạn Có Thể Gửi Nội Dung Đăng Ký Tư Vấn Miễn Phí Qua Biểu Mẫu Dưới Đây Chúng Tôi/Luật Sư Sẽ Liên Hệ Lại Ngay!