Tập 28: Hành Vi Bạo Lực Gia Đình Sẽ Bị Xử Lý Như Nào ?

Hành vi bạo lực gia đình sẽ bị xử phạt như thế nào ?

Nội dung bài viết

Từ xưa đến nay, bạo lực gia đình vẫn luôn là vấn đề nhức nhối bị cả xã hội lên án. Vì vậy, pháp luật cũng có những quy định xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi này.

Bạo lực gia đình bị xử lý như thê nào?

Hành vi nào bị coi là bạo lực gia đình ?

Căn cứ Khoản 1 Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007, các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

– Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

– Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

– Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

– Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

– Cưỡng ép quan hệ tình dục;

– Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

– Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

– Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

– Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

Chế tài xử lý hành vi bạo lực gia đình

Căn cứ theo Điều 42 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định:

“ Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, tùy thuộc vào mức độ hành vi và mức độ thương tích để xác định được tính chất của vụ việc cũng như áp dụng chế tài xử phạt nào. Hiện nay, pháp luật quy định hai chế tài xử phạt cho hành vi bạo lực gia đình như sau:

Chế tài xử lý hành chính

Các chế tài xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình được quy định từ các Điều 49 đến Điều 55 Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

Theo đó, các hành vi tồn tại phổ biến trong các vụ bạo lực gia đình như đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình  thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng. Mức phạt tiền sẽ từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng nếu thực hiện hành vi này mà sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác hay không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối; cùng với đó là biện pháp khắc phục hậu quả.

Còn đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình thì mức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Mức phạt này sẽ được nâng lên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng nếu có những hành vi:

(i) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

(ii) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;

(iii) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân; kèm theo đó là các biện pháp khắc phục hậu quả.

Chế tài xử lý hình sự

Hành vi bạo lực của người chồng sẽ bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017):

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3, Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”

Như vậy, hình thức xử lý nặng nhất đối với hành vi bạo lực gia đình có thể lên đến 14 năm tù.

Video tư vấn Xử lý hành vi bạo lực gia đình

Một số câu hỏi liên quan đến hành vi bạo lực gia đình

Câu hỏi: Chỉ khi hành hạ, đánh đập mới bị coi là bạo lực gia đình, có phải không? Đây có phải là hành vi nặng nhất?

Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc, Công Ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội)

Không.

Căn cứ Khoản 1 Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007 thì hành vi Hành hạ, ngược đãi, đánh đập chỉ là một trong các hành vi bạo lực gia đình. Việc xác định hành vi bạo lực gia đình nào là hành vi nghiêm trọng nhất thì cần căn cứ vào mức độ, tình chất của hành vi bạo lực và hậu quả mà hành vi đó gây ra.

Câu hỏi: Gây áp lực về tâm lý (bắt ép ai đó làm gì) có phải bạo lực gia đình không? Làm thế nào để xác định mức độ tổn thương tâm lý?

Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc, Công Ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội)

Có.

Theo điểm c Khoản 1 Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007, theo đó hành vi Gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi bạo lực gia đình. Nạn nhân bạo lực gia đình phải cung cấp bệnh án hoặc kết quả kiểm tra, điều trị tâm lý tại các cơ sở khám, chữa bệnh uy tín được cấp Giấy phép hoạt động hợp lệ và đươc công bố đủ điều kiện thực hiện việc khám, chữa bệnh về tâm lý. Nếu qua quá trình điều tra và xác minh là đúng sự thật, cơ quan chức năng sẽ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ này để có thể xác định mức độ tổn thương tâm lý cũng như hậu quả thiệt hại mà hành vi bạo lực gây ra có nghiêm trọng hay không.

Câu hỏi: Không chăm sóc cha mẹ già yếu, vợ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ cũng là bạo lực gia đình? Hành vi này bị phạt thế nào?

Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc, Công Ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội)

Có.

Hành vi không chăm sóc cha mẹ già yếu, vợ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 50 Nghị định 167/2013/NĐ-CP. Đây là hành vi hành hạ, ngược đãi các thành viên trong gia đình. Theo đó, người vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng, ngoài ra buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi trên.

Câu hỏi: Bắt chồng/vợ đóng góp tài chính quá khả năng của họ hoặc kiểm soát thu nhập của thành viên khác có phải hành vi bạo lực? Làm thế nào để xử phạt người này?

Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc, Công Ty Luật TNHH TGS ( Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội)

Có.

Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 có quy định về các hành vi bạo lực gia đình, trong đó có hành vi Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính.

Do đó, việc bắt chồng/vợ đóng góp tài chính quá khả năng của họ hoặc kiểm soát thu nhập của thành viên khác phải hành vi bạo lực gia đình.

Câu hỏi: Bạo lực gia đình không bao gồm cả hành vi đuổi vợ/chồng/con ra khỏi nhà. Đúng hay Sai? Tại sao?

Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc, Công Ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội)

Sai.

Căn cứ theo Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, hành vi đuổi vợ/chồng/con ra khỏi nhà là hành vi bạo lực gia đình (điểm i, khoản 1 Điều 2). Đây là hành vi trái pháp luật về xâm phạm quyền về chỗ ở hợp pháp được pháp luật ghi nhận và bảo vệ theo Điều 22 Luật Hiến pháp năm 2013.

Câu hỏi: Cha mẹ có thể ngăn cấm con làm những thứ cha mẹ không muốn. Đây không phải là bạo lực gia đình. Nhận định trên có đúng không? Tại sao?

Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc, Công Ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội)

Tùy trường hợp.

Căn cứ theo Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ, trong đó có quy định về việc thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con…Trường hợp con cái muốn làm những việc chính đáng, không trái với quy định của pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội thì cha mẹ phải tôn trọng ý kiến của con, để con được tự do làm thứ mình muốn. Lúc này, nếu cha mẹ ngăn cấm con thực hiện những việc có tính chất như trên chỉ vì mình không muốn, ví dụ như ngăn cản việc kết hôn, việc chọn trường đại học… thì cha mẹ sẽ vô tình thực hiện hành vi bạo lực gia đình theo điểm d, khoản 1 Điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia đình. Ngược lại, nếu con cái muốn làm những việc không chính đáng, vi phạm quy định pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì cha mẹ có trách nhiệm ngăn cấm, giáo dục con để con phát triển lành mạnh, không bước chân vào con đường phạm tội.

Câu hỏi: Cha mẹ không có quyền ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa những người trong gia đình với con. Đó là bạo lực gia đình. Nhận định trên có đúng không? Tại sao?

Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc, Công Ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội)

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia đình 2007 có quy định về các hành vi bạo lực gia đình, trong đó có hành vi Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.

Ngoài ra, theo điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

Do đó, hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa những người trong gia đình với con là hành vi bạo lực gia đình.

Câu hỏi: Cha mẹ dung túng, bao che cho con thực hiện hành vi bạo lực cũng phải chịu trách nhiệm. Nhận định trên có đúng không? Trách nhiệm cha mẹ phải chịu là gì?

Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc, Công Ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội)

Bạo lực gia đình là vấn nạn của xã hội, gây nhức nhối cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người, nhất là đối với phụ nữ, trẻ em.

Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.

Pháp luật hiện nay chưa có quy định về hành vi dung túng bạo lực gia đình sẽ phải chịu trách nhiệm gì trước pháp luật. Nhưng về mặt đạo đức thì cha mẹ sẽ bị lên án về hành vi dung túng bạo lực. Cha mẹ vô trách nhiệm khi nhìn thấy hành vi sai trai của con mình mà không lên tiếng, chính điều này cũng làm con cái họ đã sai lại càng sai.

Câu hỏi: Chỉ khi người thực hiện bạo lực gây thương tích nặng mới phải đi tù? Có đúng không? Các mức phạt cụ thể với người có hành vi bạo lực.

Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc, Công Ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội)

Theo điều 42 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Người có hành vi đánh vợ mà chưa đến mức xử lý hình sự thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 49, 50, 51 Nghị định 167/2013/NĐ-CP với các mức phạt như sau:

“Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

Điều 50. Hành vi hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình:

1. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đối xử tồi tệ với thành viên gia đình như: bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân;

b) Bỏ mặc không chăm sóc thành viên gia đình là người già, yếu, tàn tật, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này.

Điều 51. Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình:

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;

c) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;

b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều này.”

Hành vi đánh vợ của người chồng sẽ bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017), theo đó:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11 – 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 – 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 – 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 -14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”

Những quy định nêu trên áp dụng chung cho cả trường hợp người chồng là nạn nhân của bạo lực gia đình. Riêng đối với trường hợp xem xét xử lý hình sự được nêu tại Khoản 1 Điều 134 thì đây là trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nên nếu bị hại (người vợ) không đứng ra yêu cầu thì công an không có thẩm quyền khởi tố.

Điều 185 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình:

“1. Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 – 05 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.”

Điều 140 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Nội dung tư vấn của Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc, Công Ty Luật TNHH TGS đã được báo VNEXPRESS đăng tải: https://vnexpress.net/giai-ma-nhung-ngo-nhan-ve-bao-luc-gia-dinh-4364135.html

Nếu còn vấn đề nào thắc mắc, xin liên hộ số hotline: 024.6682.8986 để được tư vấn và hỗ trợ. Luật sư TGS luôn sẵn sàng để giải đáp cho quý vị các vấn đề pháp lý.

call-to-like

Đội ngũ luật sư – Công ty Luật TGS

lstuan

 

Luật sư – Nguyễn Văn Tuấn – Giám Đốc Công ty Luật TGS

Luật sư Tuấn đạt được nhiều kinh nghiệm tư vấn pháp luật trong các lĩnh vực như khai thác khía cạnh thương mại của Quyền Sở hữu trí tuệ, viễn thông, đầu tư, doanh nghiệp, bất động sản…

thu

 

Nguyễn Thị Hường – Chuyên Gia Tư Vấn Về Sở Hữu Trí Tuệ/Doanh nghiệp

Là chuyên gia pháp lý về lĩnh vực Sở Hữu Trí Tuệ. Đã tham gia tư vấn cho các Khách hàng trong và ngoài nước về các vấn đề về đăng ký bảo hộ và giải quyết tranh chấp về Nhãn hiệu, Thương hiệu, Kiểu dáng, Sáng chế, hiện bà là Trưởng Phòng Nhãn hiệu của văn phòng luật TGS.

oanh

 

Nguyễn Thị Oanh – Chuyên Gia Tư Vấn Về Sở Hữu Trí Tuệ

Là một chuyên viên giỏi trong lĩnh vực Sở Hữu Trí Tuệ, doanh nghiệp. Đặc biệt bà Oanh chuyên tư vấn giải đáp mọi thắc mắc về giấy phép con như: giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động, kiểm nghiệm mỹ phẩm,.....

huongtran

 

Đặng Phương Chi – Chuyên Gia Tư Vấn Về Sở Hữu Trí Tuệ

Là một chuyên gia trong lĩnh vực Sở Hữu Trí Tuệ. Đặc biệt bà Hương là chuyên gia tư vấn giải đáp mọi thắc mắc về nhãn hiệu, thương hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, bản quyền tác giả,...

tu van
ảnh đại diện luật sư tuấn

Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí

  • Luật Sư - Văn Phòng Luật TGS Law
  • Địa chỉ: Số 10, ngõ 76 Duy Tân, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội.
  • Điện thoại: 0984.769.278
  • Email: contact.tgslaw@gmail.com
  • Hotline: 0985.928.544 - Luật Sư Nguyễn Văn Tuấn

Hoặc Bạn Có Thể Gửi Nội Dung Đăng Ký Tư Vấn Miễn Phí Qua Biểu Mẫu Dưới Đây Chúng Tôi/Luật Sư Sẽ Liên Hệ Lại Ngay!