Ý kiến của luất ư về việc tăng họ phí bằng lái xe ô tô

Chuyển khoản nhầm, có lấy lại được tiền hay không?

Tôi chuyển nhầm 50 triệu từ tài khoản của mình sang một người khác và đã báo ngay với tổng đài do cả hai tài khoản đều cùng ngân hàng. Tôi đã đến ngân hành để báo cáo sự việc và nhân viên ngân hành đã rà soát xác nhận có việc chuyển tiền. Người này nói sẽ “khóa” số tiền đó lại, liên lạc với Hội sở yêu cầu chủ tài khoản nhận tiền chuyển trả, còn tôi về chờ.  Tuy nhiên chờ hơn một tháng sau người kia vẫn chưa chuyển trả cho tôi thì phía ngân hàng khuyên tôi nên báo công an, vì chức năng của họ chỉ làm được vậy. Sau đó tôi xin số điện thoại người mà tôi chuyển nhầm đó để liên hệ trao đổi nhưng ngân hàng không cung cấp. Hiện, tôi chỉ biết số tài khoản và tên không dấu của người đó. Hôm sau tôi có tới công an phường trình báo, họ nói cũng không biết xử lý thế nào, bảo phải có thông tin xác thực của người nhận tiền. Xin hỏi tiếp, tôi phải làm gì? Nếu người kia không trả thì tôi phải làm sao? Ngân hàng có trách nhiệm gì?

Khi tôi chuyển nhầm tiền sang tài khoản của người khác thì cần làm gì? Nếu người kia không trả thì tôi phải làm sao?

Tiến sỹ, Luật sư Lê Ngọc Khánh – Công ty Luật TNHH TGS – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội:

Trong thời đại công nghệ số phát triển, việc chuyển tiền đến tài khoản của người khác hết sức dễ dàng khi chỉ cần biết được số tài khoản hoặc số điện thoại, với vài thao tác đơn giản, tiền sẽ được chuyển đi trong vòng 24 giờ. Điều này dẫn đến rất nhiều trường hợp chuyển khoản nhầm cho người khác và không phải người dùng nào cũng nắm rõ quy trình xử lý vấn đề này.

Trước tiên khi phát hiện chuyển nhầm tài khoản, người dùng cần báo ngay đến ngân hàng nơi mình có tài khoản, cung cấp những thông tin cần thiết để ngân hàng có biện pháp xử lý kịp thời. Trong trường hợp ngân hàng đã có những phương án xử lý nhưng phía người nhận không chịu trả lại số tiền nhận nhầm thì người dùng có thể khởi kiện dân sự hoặc yêu cầu cơ quan chức năng vào cuộc để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định về nghĩa vụ hoàn trả tại Khoản 1 Điều 579 Bộ luật dân sự 2015: Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này. Do đó, khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, người dùng có thể khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền yêu cầu người nhận nhầm hoàn trả lại toàn bộ số tiền cho mình. Tuy nhiên trong trường hợp này sẽ khó để khởi kiện khi người dùng không nắm rõ thông tin như tên, địa chỉ của người bị khởi kiện vì ngân hàng không thể cung cấp thông tin của khách hàng theo quy định của pháp luật.

Người dùng có thể yêu cầu cơ quan cảnh sát điều tra có thẩm quyền vào cuộc để điều tra làm rõ. Khi chủ tài khoản được ngân hàng thông báo, yêu cầu hoàn trả số tiền nhận nhầm nhưng cố tình chiếm giữ trái phép thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 176 BLHS 2015. Theo đó, cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 sẽ có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 05 năm. Như vậy, người dùng có thể làm đơn tố giác đến cơ quan cảnh sát điều tra có thẩm quyền, tố giác hành vi chiếm giữ tài sản trái phép của người không hoàn trả. Cơ quan cảnh sát điều tra khi giải quyết nguồn tin tố giác về tội phạm sẽ làm việc với ngân hàng và yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng nhận nhầm để giải quyết vụ việc.

Ý kiến của Luật sư Khánh được đăng trên Báo in (Báo giấy) của Báo Pháp Luật Việt Nam (Bộ Tư Pháp) số: 315 (8.028) Thứ Ba, ngày 10/11/2020.
Ý kiến của Luật sư Khánh được đăng trên Báo in (Báo giấy) của Báo Pháp Luật Việt Nam (Bộ Tư Pháp) số: 315 (8.028) Thứ Ba, ngày 10/11/2020.

Ngân hàng có trách nhiệm gì?

Tiến sỹ, Luật sư Lê Ngọc Khánh – Công ty Luật TNHH TGS – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội:

Trường hợp chuyển nhầm tiền sang tài khoản của người khác thì ngân hàng nơi thực hiện giao dịch có trách nhiệm, liên hệ, xử lý giúp cho khách hàng của mình theo. Khi khách hàng liên hệ và cung cấp thông tin ngân hàng phải thực hiện các bước kiểm tra, rà soát thông tin. Nếu đúng, ngân hàng sẽ liên hệ với chi nhánh quản lý tài khoản nhận nhầm và yêu cầu người nhận hoàn trả lại toàn bộ số tiền. Trường hợp số dư trong tài khoản còn đủ thì ngân hàng yêu cầu ngân hàng nhận lệnh hoàn trả lệnh thanh toán Có theo quy định tại Điều 33 Thông tư 37/2016/TT-NHNN quy định về việc quản lý, vận hành và sử dụng hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng quốc gia. Trường hợp không đủ số dư thì ngân hàng thông báo, đề nghị người nhận nhầm hoàn trả số tiền.

Đồng thời  theo quy định tại Khỏan 1, 2 Điều 35 BLDS 2015 và Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 thì việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, tổ chức phải được cá nhân, tổ chức đồng ý. Ngoài ra, Điều 38 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam 2010 và Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng 2010 đều có quy định về nghĩa vụ bảo vệ bí mật bí mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng. Về nguyên tắc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng, Nghị định 117/2018/NĐ-CP quy định về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng nêu rõ: “Thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải được giữ bí mật và chỉ được cung cấp theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị định này và pháp luật có liên quan”. Do đó, việc ngân hàng không cung cấp thông tin cho người dùng là có căn cứ. Chỉ có các cơ quan được quy định mới được yêu cầu ngân hàng cung cấp các cung tin liên quan để giải quyết vụ việc.

>> Đăng tải trên Báo điện tử Báo Pháp Luật Việt Nam (Bộ Tư Pháp): https://baophapluat.vn/tu-van-365/chuyen-khoan-nham-phai-lam-gi-de-nhan-lai-tien-555284.html

call-to-like

Đội ngũ luật sư đất đai – Hãng Luật TGS LAWFIRM

lstuan

 

Luật sư – Nguyễn Văn Tuấn – Giám Đốc Công ty Luật TGS

Ông là một luật sư giỏi có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đất đai. Luật sư đã tham gia tranh tụng nhiều vụ án tranh chấp đất đai, vụ án hình sự, kinh tế, thương mại,.. trên toàn quốc.

lshunga

 

Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc Công ty Luật TGS

Thạc sĩ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng là một luật sư giỏi, đã từng công tác tại Công ty Luật TNHH NHB và nhiều công ty luật có thương hiệu khác, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Đất đai, hình sự, dân sự.

lshungb

 

Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Luật sư Công ty Luật TGS

Luật sư Đức Hùng từng công tác tại nhiều tổ chức hành nghề luật sư uy tín, có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tranh tụng hình sự, đất đai, tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình.

lsson

 

Luật sư Hà Huy Sơn – Luật sư Công ty Luật TGS

Là một luật sư giỏi trong lĩnh vực hình sự. Với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Hình Sự, luật sư Hà Huy Sơn đã gây dựng được cho mình thương hiệu riêng và sự uy tín vững chắc đối với khách hàng.

tu van
ảnh đại diện luật sư tuấn

Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí

  • Luật Sư - Văn Phòng Luật TGS Law
  • Địa chỉ: Số 34, Ngõ 187 Trung Kính, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội.
  • Điện thoại: 024.6682.8986
  • Email: contact.tgslaw@gmail.com
  • Hotline: 024.6682.8986. - Luật Sư Nguyễn Văn Tuấn

Hoặc Bạn Có Thể Gửi Nội Dung Đăng Ký Tư Vấn Miễn Phí Qua Biểu Mẫu Dưới Đây Chúng Tôi/Luật Sư Sẽ Liên Hệ Lại Ngay!