Những hành vi xâm phạm quyền tác giả

Hiện nay, ở nước ta, tình trạng xảy ra hành vi xâm phạm quyền tác giả vẫn còn diễn ra khá phổ biến, rộng khắp mọi lĩnh vực trong đồi sống xã hội. Hơn nữa trong sự phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin đặc biệt là Internet đã làm cho việc xâm phạm càng trở nên dễ dàng xâm phạm và tính chất trở lên phức tạp hơn.

Chính vì thế, việc tiến hành đăng ký bản quyền tác giả là việc làm vô cùng cần thiết và quan trọng để bảo vệ quyền lợi của tác giả. Các tác giả cần phải nắm rõ pháp luật về các hành vi xâm phạm bản quyền của mình để có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Trong bài viết này, TGS Law sẽ nêu ra các tình huống được pháp luật nhận định là xâm phạm bản quyền tác giả:

Những hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định - Ảnh minh họa

Theo Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì các hành vi xâm phạm quyền tác giả bao gồm:

“1. Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.

2. Mạo danh tác giả.

3. Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả.

4. Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.

5. Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

6. Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này.

7. Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 của Luật này.

8. Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.

9. Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

10. Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

11. Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

12. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

13. Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.

14. Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

15. Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.

16. Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.”

→ Nhìn chung, ta có thể chia các hành vi trên thành ba nhóm riêng biệt: Các hành vi xâm phạm các quyền nhân thân; Các hành vi xâm phạm quyền tài sản; Các hành vi xâm phạm đến các biện pháp bảo vệ quyền tác giả.

Vậy làm sao để xác định hành vi xâm phạm? Điều này được hướng dẫn cụ thể hơn tại Điều 5 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, được sửa đổi, bổ sung theo quy định của Nghị định số 119/2010/NĐ-CP quy định các căn cứ chung để xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung, hành vi xâm phạm quyền tác giả nói riêng, bao gồm:

Thứ nhất: Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

+ Theo khoản 7 Điều 3 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP, “đối tượng bị xem xét” là đối tượng bị nghi ngờ và bị xem xét nhằm đưa ra kết luận đó có phải là đối tượng xâm phạm hay không.

→ Như vậy, đối tượng bị xem xét của hành vi xâm phạm quyền tác giả là tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học đang được bảo hộ quyền tác giả.

Thứ hai: có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét. Tức là có các hành vi theo như Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 nêu trên.

– Thứ ba: Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các Điều 25, 26 của Luật Sở hữu trí tuệ. Đây là hai điều luật nói về các trường hợp được sử dụng tác phẩm mà không bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

– Thứ tư: Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam. Hành vi bị xem xét cũng bị coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam.

Mọi vấn đề thắc mắc liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ 1900.8698 để được Luật sư hỗ trợ

ảnh đại diện luật sư tuấn

Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí

  • Luật Sư - Văn Phòng Luật TGS Law
  • Địa chỉ: Số 5, Ngách 24, Ngõ 1, Trần Quốc Hoàn, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội
  • Điện thoại: 1900.8698
  • Email: contact@tgslaw.vn
  • Hotline: 0985 928 544 - Luật Sư Nguyễn Văn Tuấn

Hoặc Bạn Có Thể Gửi Nội Dung Đăng Ký Tư Vấn Miễn Phí Qua Biểu Mẫu Dưới Đây Chúng Tôi/Luật Sư Sẽ Liên Hệ Lại Ngay!

XEM NGAY VIDEO

Hướng dẫn làm tờ khai đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

 

tu van
  • Bình luận Facebook
  • Bình luận Google+
  • Bình luận Web