Những trường hợp được miễn truy cứu trách nhiệm hình trong BLHS

Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) là một trong những chế định thể hiện rõ nhất về chính sách hình sự nhân của Nhà nước ta về xử lý một người có hành vi vi phạm mà BLHS quy định là tội phạm. Dưới đây là các trường hợp được miễn hoặc có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự của Bộ Luật Hình Sự 2015.

miễn truy cứu trách nhiệm hình sự

Các trường hợp được miễn và có thể được miễn truy cứu trách nhiệm theo quy định của BLHS năm 2015

1. Các trường hợp được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự
Theo quy định của BLHS năm 2015, trong các trường hợp sau đây, người phạm tội được miễn TNHS:
-Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS về tội định phạm (đoạn 2 Điều 16).
-Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (điểm a khoản 1 Điều 29);
-Khi có quyết định đại xá[1] (điểm b khoản 1 Điều 29).
-Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn TNHS (khoản 4 Điều 110).
Khi có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để xác định rằng người phạm tội thuộc một trong bốn trường hợp này thì cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải miễn TNHS cho họ.
Khoản 1 Điều 27 BLHS năm 2015 quy định: “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu TNHS”. Những trường hợp không bị truy cứu TNHS do đã hết thời hiệu được quy định tại khoản 2 Điều 27 BLHS năm 2015 là những trường hợp mà lẽ ra người phạm tội phải chịu TNHS (vì có cơ sở của TNHS) nhưng Nhà nước quy định là không truy cứu TNHS đối với họ thể hiện tính nhân đạo của pháp luật vì qua một thời hạn nhất định họ đã không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, không cần thiết phải áp dụng biện pháp cưỡng chế của luật hình sự.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 155, điểm b khoản 1 Điều 230, khoản 1 Điều 248 và Điều 282 của BLTTHS năm 2015, thì những vụ án hình sự (về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS năm 2015) đã được khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết; nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên toà sơ thẩm, thì vụ án phải được đình chỉ (trừ trường hợp người rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức). Trong trường hợp này, thực chất Nhà nước cũng không truy cứu TNHS với người đã phạm tội.
Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự là việc không buộc người phạm tội phải chịu TNHS mà lẽ ra họ phải gánh chịu hậu quả pháp lý hình sự do việc thực hiện tội phạm. Do đó, tất cả những trường hợp mà Nhà nước không truy cứu TNHS mặc dù đã có hành vi phạm tội đều thuộc trường hợp miễn TNHS. Vì vậy, theo quan điểm của người viết, cần bổ sung thêm điểm c vào khoản 1 Điều 29 BLHS năm 2015 về miễn TNHS cho “Những trường hợp đã hết thời hiệu truy cứu TNHS và những trường hợp đã khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại nhưng bị hại rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm”.
2. Các trường hợp có thể được miễn TNHS
Theo quy định của BLHS năm 2015, trong các trường hợp sau đây, người phạm tội có thể được miễn TNHS:
-Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (điểm a khoản 2 Điều 29);
-Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa (điểm b khoản 2 Điều 29);
-Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận (điểm c khoản 2 Điều 29);
-Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 3 Điều 29);
– Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:
+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này (điểm a khoản 2 Điều 90);
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này (điểm b khoản 2 Điều 90);
+Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án (điểm c khoản 2 Điều 90).
+ Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn TNHS hoặc miễn hình phạt (khoản 2 Điều 390 BLHS).
Qua nghiên cứu người viết thấy rằng, điểm a khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015, nhà làm luật lại quy định có tính “mở” với trường hợp có thể được miễn TNHS “do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”.

miễn trách nhiệm hình sự

>>> Xem thêm: Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Quy định này, theo quan điểm nghiên cứu của người viết chẳng khác gì so với quy định mang tính chung chung của khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Dù khái niệm “chuyển biến của tình hình” trong chế định miễn TNHS chưa được nhà làm luật đưa vào quy định của BLHS hoặc được giải thích bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng cụm từ “do chuyển biến của tình hình” được hiểu là chính sách về pháp luật hình sự có sự thay đổi theo hướng không còn quy định hành vi sai trái đang bị điều tra, truy tố, xét xử là tội phạm nữa.

Ví dụ: Theo BLHS năm 1985, hành vi trộm cắp tài sản trị giá từ 500.000 đồng trở lên là đã có thể truy cứu TNHS. Tuy nhiên, với quy định tại Điều 138 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sugn năm 2009), trị giá tài sản bị trộm cắp phải từ 2 triệu đồng trở lên thì mới bị truy cứu TNHS. Sau Khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 được áp dụng, người trộm cắp từ 500.000 đồng đến dưới 2 triệu đồng mà đang bị điều tra, truy tố, xét xử theo BLHS năm 1985 sẽ đương nhiên được miễn TNHS theo khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999. Tuy đã hơn 15 năm, kể từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực thi hành cho đến nay, cơ quan nhà nước cũng chưa có ban hành văn bản cụ thể hướng dẫn thống nhất về nhận thức tình tiết này, và cũng chính từ sự không kịp thời này, nhiều cơ quan tố tụng đã áp dụng tình tiết này để không phải bồi thường cho người bị oan trong trường hợp không chứng minh được tội phạm và tất nhiên cũng không loại trừ trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng cũng có thể vận dụng tùy tiện quy định này để bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.

Các trường hợp có thể được miễn TNHS được quy định trong các điểm, khoản của các điều luật vừa nêu, qua nghiên cứu thấy rằng tính chất pháp lý của các trường hợp này khác nhau. Quy định tại khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015 là quy định chung cho mọi tội phạm và người phạm tội (gọi tắt là quy định chung). Xét về logic thì bất cứ tội phạm nào, người phạm tội nào nếu thoả mãn các tình tiết được quy định ở đây thì đều có thể được miễn TNHS không kể tội phạm đó là loại tội phạm nào, tội danh gì. Riêng tại khoản 3 Điều 29 của Bộ luật này, nhà làm luật đã “giới hạn” trong những trường hợp khi và chỉ khi thỏa mãn quy định, thì mới có thể xem xét việc miễn TNHS. Tuy nhiên, để đạt được sự thống nhất về nhận thức và tránh bị lạm dụng khi áp dụng vào thực tiễn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn. Chẳng hạn với trường hợp, người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do lỗi vô ý gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của bị hại được 2/3 hoặc 3/5 người đại diện của bị hại tự nguyện hòa giải, thống nhất phần bồi thường thiệt hại và đề nghị miễn TNHS, thì có thể được miễn TNHS không?
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 90, khoản 2 Điều 390 BLHS năm 2015 quy định cho những trường hợp cụ thể để áp dụng cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, nhưng trừ các trường hợp được liệt kê tại điểm a khoản 2 của Điều này; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015, trừ những trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 90; người dưới 18 tuổi là đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể; Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn TNHS. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy sẽ có không ít trường hợp dù người phạm tội thuộc một trong các trường hợp có thể được miễn TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 90 BLHS năm 2015, vừa thỏa mãn cả một trong các quy định tại khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015, nhưng họ cũng vẫn chỉ có thể được miễn TNHS. Rõ ràng, như vậy là chưa đảm bảo tính công bằng, hợp lý và chưa thực sự khuyến khích người phạm tội thuộc trường hợp vừa đề cập có thể yên tâm về khả năng được miễn TNHS để họ ra tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm.

Trên đây là Những trường hợp được miễn truy cứu trách nhiệm hình trong BLHS do Luật sư TGS Law tóm tắt và chọn lọc lại những ý chính để bạn đọc có thể hiểu rõ nhất. Nếu bạn vẫn chưa hiểu thì có thể liên hệ tới số Hotline: 1900.8698 hoặc truy cập và Website: https://tgslaw.vn/van-phong-luat-su-tu-van-mien-phi.html. Mọi thắc mắc của bạn đọc sẽ được chúng tôi giải đáp đầy đủ và chi tiết nhất.

ảnh đại diện luật sư tuấn

Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí

  • Luật Sư - Văn Phòng Luật TGS Law
  • Địa chỉ: Số 5, Ngách 24, Ngõ 1, Trần Quốc Hoàn, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội
  • Điện thoại: 1900.8698
  • Email: contact@tgslaw.vn
  • Hotline: 0985 928 544 - Luật Sư Nguyễn Văn Tuấn

Hoặc Bạn Có Thể Gửi Nội Dung Đăng Ký Tư Vấn Miễn Phí Qua Biểu Mẫu Dưới Đây Chúng Tôi/Luật Sư Sẽ Liên Hệ Lại Ngay!

tu van
  • Bình luận Facebook
  • Bình luận Google+
  • Bình luận Web