Tổng hợp các tình huống về pháp luật hình sự

Ghép ảnh, tung tin đồn thất thiệt về người khác bị phạt thế nào?

Cho em hỏi, có những đối tượng chuyên đi ghép ảnh người khác rồi tung tin đồn thất thiệt nhằm bôi nhọ nhân phẩm và danh dự của người khác thì điều kiện hình thành để định tội danh là như nào? Và mức xử phạt bồi thường đối với những người đó là như nào ạ? Em xin cảm ơn!

Điều kiện hình thành để định tội danh đối với những đối tượng chuyên đi ghép ảnh người khác rồi tung tin đồn thất thiệt nhằm bôi nhọ nhân phẩm và danh dự của người khác là hành vi vu khống được hiểu là bịa đặt hoặc lan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt người khác phạm tội.

Hành vi trên có dấu hiệu của tội Vu khống quy định tại Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, cụ thể: Hành vi ghép ảnh người khác rối tung tin đồn thất thiệt nhằm bôi nhọ nhân phẩm và danh dự của người khác có thể cấu thành Tội vu khống theo quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo đó, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt từ từ 03 tháng đến 07 năm tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được thực hiện theo quy định tại Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015, bao gồm: “Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; Thiệt hại khác do luật quy định”. Ngoài ra, người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015 thì còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu.

Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Hành vi bắt, giữ người trái pháp luật bị xử lý thế nào?

Gia đình tôi bị người ta lấn chiếm đất đai và phá hoại mất 20 cây cà phê và 60 cây bông gòn. Trong khi chờ cơ quan chức năng xử lý sự việc thì vào ngày 15/02/2021, trong lúc đang chuẩn bị bơm nước tưới cho cây cà phê, ông này lại sang đe doạ, uy hiếp tôi ngăn cản không cho tôi được làm công việc của mình. Do quá bức xúc tôi đã bắt trói ông lại rồi trình báo tới chính quyền điạ phương. Nay tôi đang bị cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố bị can về tội bắt giữ người trái pháp luật. Vậy tôi xin hỏi tôi sẽ bị xử lý thế nào, hình phạt dành cho tôi ra sao?

Bắt người trái pháp luật là hành vi bắt người mà không có lệnh của người có thẩm quyền, không thuộc trường hợp phạm tội quả tang, không thuộc trường hợp bắt người có lệnh truy nã hoặc có lệnh bắt người nhưng thực hiện không đúng thủ tục.

Tính trái pháp luật trong việc bắt, giữ người là việc bắt, giữ ngoài những trường hợp được cho phép. Vì vậy, để xác định được hành vi bắt, giữ người là trái pháp luật hay không thì phải căn cứ vào các quy định về việc bắt, giữ người tại một số quy định trong Luật Hành chính, Bộ luật Tố tụng hình sự,… Do đó, việc bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là những hành vi nằm ngoài quy định pháp luật cho phép. Những hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Nhà nước.

Theo quy định tại Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: “Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Như vậy, với hành vi bắt giữ người trái pháp luật, bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự với Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo quy định tại Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, anh có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 12 năm.

Trộm 13 triệu đồng nhưng đã trả lại, vợ tôi có bị phạt tù?

Vợ em vừa qua có trộm cắp số tiền 13 triệu đồng của cô giáo, cô giáo đã báo công an và vợ em bị bắt và lấy lời khai, sau đó em trả lại số tiền 13 triệu đồng cho cô giáo và cô giáo đã xin với công an để vợ em được nhẹ tội và công an cho em bảo lãnh vợ em về nhà rồi, trong trường hợp này vợ em có bị tù hay không? Xin ý kiến của luật sư! Cám ơn!

Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lí. Trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác. Hành vi trộm cắp tài sản chỉ bị coi là tội phạm khi thoả mãn điều kiện được quy định cụ thể trong luật, thể hiện hành vi đó có tính nguy hiểm đáng kể của tội phạm.

Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Theo đó, trường hợp của vợ bạn với số tiền 13 triệu đồng, vợ bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Việc trả lại tài sản sau khi trộm cắp không thuộc trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết theo quy định tại Điều 155 bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, trường hợp cô giáo đã báo công an và vợ bạn bị bắt, đã lấy lời khai thì sau đó mặc dù vợ bạn đã trả lại số tiền 13 triệu đồng cho cô giáo và cô giáo đã xin với công an để vợ bạn được nhẹ tội thì vợ bạn vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản. Trường hợp gia đình bạn đã hoàn trả lại số tiền 13 triệu đồng cho cô giáo sẽ được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (do tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả quy định tại Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) khi Tòa án quyết định hình phạt đối với hành vi của vợ bạn.

Như vậy, việc trả lại tài sản cho người bị trộm (cô giáo) không phải là căn cứ để đình chỉ vụ án, người phạm tội là vợ bạn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự và có thể bị phạt tù tùy vào mức độ, tính chất của vụ án.

Bán thịt heo dịch ra thị trường bị xử lý như thế nào?

Hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi và sán lợn đang phổ biến tại các địa phương nuôi heo. Một số chủ trang tại và hộ dân có heo bị dịch nhưng vì ham lợi nên đã mổ và bán trên thị trường. Tôi muốn hỏi Luật sư trong trường hợp này người bán đã có hành vi gây hại cho sức khỏe xã hội như vậy thì sẽ bị xử lý như thế nào? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thịt lợi là món ăn phổ biến và hầu như góp mặt trong bữa ăn hàng ngày của người Việt. Trong khi thị trường thịt heo lên xuống thất thường về giá, một số người dân đã bất chấp thịt lợi dịch Châu Phi để bán ra ngoài thị trường, gây hại cho những ai ăn phải. Hành vi này gây hại nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng cho người tiêu dùng. Theo đó, người bán thịt lợn bị dịch bệnh, tùy từng mức độ gây thiệt hại, thuộc các trường hợp khác nhau thì sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

  1. Về trách nhiệm hành chính

Theo quy định tại khoản 5 Điều 8 Nghị định số 90/2017/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y thì phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

  • Vận chuyển, buôn bán động vật, sản phẩm của động vật bị nhiễm bệnh dịch đã được công bố trong vùng bị dịch uy hiếp, vùng đệm;
  • Mang đi tiêu thụ thân thịt, phụ phẩm, sản phẩm khác của động vật bị giết mổ bắt buộc chưa được xử lý bảo đảm yêu cầu vệ sinh thú y;
  • Chăn nuôi hoặc xuất bán động vật mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khi cơ quan thú y có thẩm quyền đã yêu cầu phải giết mổ bắt buộc hoặc tiêu hủy;
  • Không tiêu hủy, giết mổ bắt buộc động vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh, động vật chết theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y.”

Trường hợp hành vi vận chuyển, buôn bán động vật, sản phẩm của động vật bị nhiễm bệnh dịch đã được công bố trong vùng bị dịch uy hiếp, vùng đệm xảy ra từ ngày 18/02/2020 thì theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định 04/2020/NĐ-CP, người vi phạm còn bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng khi thực hiện hành vi mà gây thiệt hại về tài sản có giá trị dưới 100.000.000 đồng. Và phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng khi gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án.

Đồng thời, theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 4 Nghị định số 115/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm: “Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.” Như vậy, theo quy định này thì người bán thịt lợn bệnh tùy vào mức độ vi phạm sẽ bị phạt số tiền tương ứng với hành vi vi phạm.

  1. Về trách nhiệm hình sự:

Liên quan đến các hành vi mổ lợi dịch Châu Phi để bán trên thị trường là hành vi vi phạm pháp luật về tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm được quy định tại Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Theo đó, người nào có hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 20 năm. Tùy theo tính chấp mức độ thực hiện hành vi phạm tội.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Có phải thi hành án hình sự khi đang kháng cáo hay không?

Con trai tôi vừa bị tuyên án về tội cố ý gây thương tích. Vì không đồng ý với bản án hình sự sơ thẩm này nên con trai tôi muốn kháng cáo để được xét xử lại. Tôi muốn hỏi Luật sư trong thời gian kháng cáo con tôi có phải thi hành án ngay không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Theo quy định tại Điều 343 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: “Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.”

Bên cạnh đó, căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 364 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: “Thời hạn ra quyết định thi hành án là 07 ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm.”

Như vậy khi bản án sơ thẩm bị kháng cáo thì Bản án sơ thẩm chưa phát sinh hiệu lực pháp luật, chưa đủ điều kiện thi hành án do vậy con trai của bạn chưa phải thi hành án trong thời gian này. Chỉ khi bản án xét xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thì mới phải thi hành án theo quy định của pháp luật.

Có được bảo lĩnh người sử dụng, tàng trữ ma túy đá?

Chào luật sư, em có người bạn bị công an bắt khám xét trên người có 05 tép ma túy đá số lượng ít quy ra khoảng 500.000 đồng tiền mặt. Hiện đang bị tạm giữ tại công an huyện. Xin phép hỏi luật sư, gia đình có thể làm giấy bảo lĩnh tại ngoại được không? Đây là lần đầu, bạn ấy đã có gia đình có con nhỏ và là trụ cột của gia đình.

Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về bảo lĩnh bị can, bị cáo thì bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

Như vậy, không phải trường hợp nào cũng có thể bảo lĩnh bị can mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can để quyết định. Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định.

Mua nhầm xe trộm cắp thì phải làm gì?

Cách đây 02 tháng tôi có mua trên chợ tốt một chiếc xe máy, nhưng tôi không hề biết đây là xe trộm cắp. Tôi chỉ biết được khi bị cơ quan công an tạm giữ do vi phạm giao thông trong lúc lấy lời khai, tôi đã chỉ ra được, tên tuổi, địa chỉ của người đã bán, đổi các chiếc xe đó cho tôi và người đó cũng đã bị cơ quan công an gọi lên làm việc. Xin hỏi Luật sư trong trường hợp này tôi có vi phạm pháp luật không? Nếu tôi vi phạm thì vi phạm như thế nào? Tôi phải làm gì trước cơ quan công an để đảm bảo quyền lợi của mình?

Tại Khoản 2 Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu thì trường hợp giao dịch đối với tài sản phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền: “Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.”

Như vậy, trong trường hợp bạn đã tiến hành đăng ký quyền sở đối với chiếc xe máy trên và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận thì chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bạn. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và tránh những rủi ro trong giao dịch dân sự bạn cần phải tìm hiểu kỹ về nguồn gốc của chiếc xe, xe có giấy tờ hợp pháp không, có trong tình trạng đang bị cầm cố thế chấp hay không, xe có thuộc trường hợp đang bị tạm giữ giấy tờ để đảm bảo thi hành án không.

Gây thương tích dưới 11% thì có bị khởi tố hình sự không?

Gia đình em lúc trước có khai hoang một mảnh đất để nuôi tôm. Năm nay mới chính thức vào làm. Nhưng lại bị một người cùng làng giành và không cho đào. Và bên người dành có làm đơn gửi lên phường tại nơi cư trú. Đang trong thời gian kiện tụng thì bên người kiện có vào nhà chửi bới và phá hoại nhiều lần. Đỉnh điểm chịu không nổi nên bên em có ra nói chuyện đúng sai, nhưng không được nên hai bên có xô xát. Bên người kiện có đập phá tài sản, và đánh gia đình bên em. Cũng may là ba em tránh được và có chống cự lại, thì vô tình làm bên người kiện bị thương ở đầu, theo kết quả giám định bị 2% ạ. Vậy cho em hỏi nếu bị bên em có chịu trách nhiệm hình sự hay một trách nhiệm gì không?

Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về thì người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
  • Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
  • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
  • Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
  • Có tổ chức;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
  • Có tính chất côn đồ;
  • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Như vậy, về cơ bản, hành vi cố ý gây thương tích sẽ bị khởi tố hình sự theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nếu mức độ thương tích từ 11% đến 30%. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi gây thương tích mà thuộc một trong các trường hợp từ Điểm a đến Điểm k Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ba của bạn vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trên.

Ngoài ra, ba của bạn có thể phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

  • Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
  • Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
  • Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
  • Thiệt hại khác do luật quy định.

Ngoài ra, người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Có phải chịu trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông?

Tôi lái xe và gây tai nạn cho người khác nhưng chỉ gây thiệt hại về tài sản khiến xe của người khác bị hư. Tôi chưa có bằng lái xe. Vậy, tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Mức độ sử dụng phương tiện lưu thông trên các tuyến đường ngày càng nhiều, đối tượng sử dụng phương tiện cũng rất đa dạng, tình trạng trong lúc lái xe cũng không đồng nhất. Chính vì những yếu tố này mà có rất nhiều vụ tai nạn đáng tiếc xảy ra, trước mắt là gây tổn hại đến bên bị hại sau đó là ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân người lái xe. Trong trường hợp đó thì bên gây tai nạn phải chịu trách nhiệm.

Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, trường hợp lái xe gây tai nạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Đối với trường hợp của bạn, khi gây tai nạn nhưng chỉ gây thiệt hại về tài sản khiến xe của người khác bị hư, nếu tài sản có giá trị từ 100 đến dưới 500 triệu đồng thì có thể bị phạt tiền từ 30-100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01-05 năm. Ngoài ra, bạn có thể bị phạt tù từ 03-10 năm khi không giấy phép lái xe theo quy định tại Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Câu 10: Bán hàng fake có phạm tội lừa đảo không?

Em có mua 1 chiếc túi xách trị giá hơn 5 triệu đồng và người bán cam kết hàng chính hãng. Sau khi sử dụng được hơn 1 tháng em có nghi ngờ và phát hiện ra đó là túi dởm và em có chủ động liên hệ lại với người bán. Ban đầu họ chỉ trả lời 1 tin nhắn ngắn và sau đó không trả lời nữa mặc dù tài khoản mạng xã hội bên bán dùng để kinh doanh vẫn hoạt động thường ngày. Em nhắn tín họ cũng không trả lời. Em muốn họ đền bù lại số tiền em chi trả cho món hàng đó và em sẽ trả lại chiếc túi đó. Vậy cho em hỏi em phải làm gì để bắt họ đền bù lại tiền và giải quyết vấn đề này ạ? Em cảm ơn!

Trả lời:

Trước tiên, bạn nên gửi công văn khuyến cáo đến Cửa hàng nơi bạn đã mua túi xách. Trong đó, bạn gửi kèm các hình ảnh chụp lại nội dung trao đổi mua hàng, cam kết hàng chính hãng của họ và yêu cầu đền bù lại số tiền. Nếu như phía Cửa hàng không hồi đáp và cũng không đền bù thì bạn có quyền làm đơn tố giác tộm phạm về “hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hoặc khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung 2017 thì hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 02 triệu đồng trở lên hoặc dưới 02 triệu đồng thì tùy theo mức độ thực hiện hành vi phạm tội mà người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, hoặc phạt tù chung thân.

Ngoài ra, người phạm tội còn bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề đến 05 hoặc tịch thu tài sản. Bên cạnh đó, bạn cũng cần phải thu thập những chứng cứ liên quan đến hành vi này để phối hợp cùng cơ quan điều tra, làm rõ sự việc.

Bị mất chứng minh nhân dân phải làm sao?

Trước đây em từng làm mất chứng minh thư. Có đối tượng xấu nhặt được và dùng chứng minh thư đó đi đăng kí sim điện thoại chính chủ và nhắn tin làm nhục người khác. Quý luật sư cho em hỏi nếu bắt được hắn thì em có thể kiện hắn không, kiện với tội danh gì và hình phạt hắn phải nhận là gì? Em cảm ơn ạ.

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chứng minh nhân dân là một loại giấy tờ tùy thân của công dân do cơ quan Công an có thẩm quyền chứng nhận về những đặc điểm riêng và nội dung cơ bản của mỗi công dân trong độ tuổi do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm thuận tiện việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân trong đi lại và thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.

Điều này được quy định tại Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính Phủ Nước CHXHCN Việt Nam về Chứng minh nhân dân. Mỗi công dân chỉ được cấp một chứng minh nhân dân và có một số chứng minh nhân dân riêng (quy định tại Điều 3). Cơ quan công an có thẩm quyền là đơn vị cấp quận, huyện nơi xảy ra việc đăng ký sim và đối tượng nhắn tin làm nhục người khác. Khi hành vi gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội, đủ các yếu tố cấu thành tội phạm có thể bị xử lý về tội Làm nhục người khác, tùy vào tính chất và mức độ của hành vi nguy hiểm được quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Theo đó, người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy đinh: Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.”

Như vậy, căn cứ tại điều 155 và 156 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 người có hành vi mạo danh thực hiện các hành vi bị cấm theo quy định trên đối với bạn thì họ có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự với mức án phạt có thể lên tới 7 năm tù giam đối với tội vu khống và 3 năm tù giam đối với tội làm nhục người khác. Tuy nhiên, để tố cáo được hành vi vi phạm của người đó thì bạn phải cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh bạn bị mất chứng minh nhân dân và việc người đó đang làm là mạo danh bạn để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Đánh bạc online có phạm pháp không?

Em xin chào Luật sư! Em có một câu hỏi muốn hỏi: vừa qua có một số ban kết bạn qua Facebook zalo với em, có chào mời em qua trang kubet đánh bài online, họ bảo trang đó là của quốc tế và có giấy phép kinh doanh công nhận hoạt động hợp pháp. Trong lời mời họ nói, tham gia nạp 02 triệu một người sẽ lời 200 nghìn đồng. Em vẫn chưa tham gia vì em biết cờ bạc là sai trái và chỉ có mất tiền, nhưng mấy đứa bạn em đã tham gia và mất hết sạch tiền. Vậy luật sư cho em hỏi: trường hợp chơi mất hết tiền, thì sau này có bị tra cứu và phạt hình sự không ạ? Em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội đánh bạc như sau: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 Bộ luật này, chưa được xoá án tích này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên thì hành vi đánh bạc online vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Tuỳ vào tính chất, mức độ và hành vi vi phạm thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Đối với số tiền phạm pháp 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 Bộ luật này, chưa được xoá án tích này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Người đang bị tạm giữ có quyền tố cáo không?

Tôi là bị can trong vụ án hình sự đang bị tạm giam. Trong quá trình điều tra vụ án, tôi thường xuyên bị công kích, đánh đập và không được gặp người thân. Xin hỏi Luật sư hiện tôi đang bị tạm giam thì có thể tố cáo hành vi này của một số cán bộ điều tra hay không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Người bị tạm giam, tạm giữ để đảm bảo cho quá trình thi hành án, cho dù là phạm tội nghiêm trọng như thế nào đi chăng nữa cũng được pháp luật bảo đảm quyền con người. Việc bạn bị điều tra viên dùng nhục hình, cản trở bạn gặp người thân trong gia đình là vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Tại điều 8 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định về những hành vi bị nghiêm cấm như sau:

  • Tra tấn, truy bức, dùng nhục hình; các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người hoặc bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
  • Không chấp hành lệnh, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền về tạm giữ, tạm giam, trả tự do.
  • Giam giữ người trái pháp luật; trả tự do trái pháp luật người bị tạm giữ, người bị tạm giam; vi phạm quy định trong quản lý, canh gác, áp giải người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
  • Cản trở người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền thăm gặp thân nhân, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, tiếp xúc lãnh sự, khiếu nại, tố cáo, quyền con người, quyền và nghĩa vụ khác của công dân theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan.
  • Phá hủy cơ sở giam giữ, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cơ sở giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khỏi nơi giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khi đang bị áp giải; đánh tháo người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
  • Không chấp hành nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam giữ hoặc quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam.
  • Thực hiện hoặc tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, che giấu, ép buộc người khác vi phạm pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; trả thù, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác trong thi hành tạm giữ, tạm giam.”

Theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 9 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam: “Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật”. Như vậy, theo quy định này, nếu bạn đang bị tạm giam mà thường xuyên bị công kích, đánh đập, không được gặp người thân … thì có quyền tố cáo những hành vi xâm phạm đó của cơ quan điều tra để bảo vệ quyền và lợi ích của mình theo quy định của pháp luật.

Chưa đăng ký kết hôn được gặp chồng đang bị tạm giam không?

Tôi và chồng tôi vừa mới tổ chức lễ kết hôn nhưng chưa kịp đăng ký kết hôn thì chồng tôi bị Công an tạm giam. Khi tôi đến xin gặp thì cán bộ Công an không cho vì tôi không phải là người thân. Tôi muốn hỏi rằng như vậy có đúng không? Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Tại khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Theo đó, việc bạn và người mà bạn gọi là chồng mới chỉ tổ chức lễ cưới nhưng chưa đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định pháp luật nên hai bạn chưa được coi là vợ chồng hợp pháp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư số 34/2017/TT-BCA ngày 19/09/2017 của Bộ Công an và khoản 8 Điều 3 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 thì đối tượng được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam là thân nhân của người bị tạm giữ, người bị tạm giam bao gồm: người có quan hệ ông bà nội, ông bà ngoại; bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, bố mẹ vợ, bố mẹ chồng; vợ, chồng; anh chị em ruột hoặc con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể với người bị tạm giữ, người bị tạm giam; cháu ruột với người bị tạm giữ, người bị tạm giam mà người bị tạm giữ, người bị tạm giam là ông bà nội, ông bà ngoại. Theo đó, bạn và người bạn gọi là chồng chưa phải là vợ chồng hợp pháp nên khi bạn đến trại tạm giam, cán bộ Công an không cho gặp vì bạn không phải là người thân là hoàn toàn đúng quy định pháp luật.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, để gặp được người mà bạn gọi là chồng thì bạn phải có đơn đề nghị, có xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan có thẩm quyền; trường hợp bạn không có giấy tờ tùy thân thì đơn đề nghị thăm gặp phải dán ảnh và đóng dấu giáp lai vào ảnh. Sau khi hoàn tất thủ tục trên thì bạn sẽ gửi đơn đề nghị đến cơ sở trại giam. Khi đó, Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định bằng văn bản việc cho gặp thân nhân, nêu rõ thời điểm được gặp thân nhân, cán bộ quản lý trong thời gian thăm gặp và gửi quyết định cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết.

Có thai liên tục để được hoãn hình phạt tù có được không?

Theo quy định của pháp luật hiện nay thì phụ nữ mang thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì được hoãn chấp hành hình phạt tù. Vậy tôi có thắc mắc không biết có trường hợp liên tục mang thai để hoãn mãi được không? Hay có giới hạn?

Trả lời:

Theo quy định tại Văn bản giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn vấn đề thi hành án đối với phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì đối với người bị kết án là phụ nữ mà sau khi bị kết án họ liên tục có thai và sinh con để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án phạt tù thì được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 61 Bộ luật hình sự năm 1999 (điểm b khoản 1 Điều 67 Bộ luật hình sự năm 2015) thì người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong trường hợp “Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi”.

Như vậy, nếu người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi, không phân biệt họ cố tình có thai và sinh con liên tục để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án phạt tù và cũng không giới hạn số lần.

call-to-like

Đội ngũ luật sư – Công ty Luật TGS

lstuan

 

Luật sư – Nguyễn Văn Tuấn – Giám Đốc Công ty Luật TGS

Luật sư Tuấn đạt được nhiều kinh nghiệm tư vấn pháp luật trong các lĩnh vực như khai thác khía cạnh thương mại của Quyền Sở hữu trí tuệ, viễn thông, đầu tư, doanh nghiệp, bất động sản…

thu

 

Khúc Thị Thu – Chuyên Gia Tư Vấn Về Sở Hữu Trí Tuệ/Doanh nghiệp

Là chuyên gia pháp lý về lĩnh vực Sở Hữu Trí Tuệ. Đã tham gia tư vấn cho các Khách hàng trong và ngoài nước về các vấn đề về đăng ký bảo hộ và giải quyết tranh chấp về Nhãn hiệu, Thương hiệu, Kiểu dáng, Sáng chế, hiện bà là Trưởng Phòng Nhãn hiệu của văn phòng luật TGS.

oanh

 

Nguyễn Thị Oanh – Chuyên Gia Tư Vấn Về Sở Hữu Trí Tuệ

Là một chuyên viên giỏi trong lĩnh vực Sở Hữu Trí Tuệ, doanh nghiệp. Đặc biệt bà Oanh chuyên tư vấn giải đáp mọi thắc mắc về giấy phép con như: giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động, kiểm nghiệm mỹ phẩm,.....

huongtran

 

Trần Mai Hương – Chuyên Gia Tư Vấn Về Sở Hữu Trí Tuệ

Là một chuyên gia trong lĩnh vực Sở Hữu Trí Tuệ. Đặc biệt bà Hương là chuyên gia tư vấn giải đáp mọi thắc mắc về nhãn hiệu, thương hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, bản quyền tác giả,...

tu van
ảnh đại diện luật sư tuấn

Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí

  • Luật Sư - Văn Phòng Luật TGS Law
  • Địa chỉ: Số 34, Ngõ 187 Trung Kính, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội.
  • Điện thoại: 024.6682.8986
  • Email: contact.tgslaw@gmail.com
  • Hotline: 024.6682.8986. - Luật Sư Nguyễn Văn Tuấn

Hoặc Bạn Có Thể Gửi Nội Dung Đăng Ký Tư Vấn Miễn Phí Qua Biểu Mẫu Dưới Đây Chúng Tôi/Luật Sư Sẽ Liên Hệ Lại Ngay!